
NHỚ VỀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÙNG CAO
Tác giả: Cô giáo Đinh Thị Kim Dung
Nguyên giáo viên nhà trường
Trong cuộc đời dạy học, ai cũng có những kỷ niệm khó quên. Ra trường, tôi được phân công dạy ở nhiều trường mỗi trường đều có những kỷ niệm, nhưng trường Phổ thông vùng cao mà nay gọi là trường Phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất.
Năm 1976, khu tự trị Tây Bắc giải thể. Học sinh Lai Châu học ở 2 trường thanh niên dân tộc và thiếu niên dân tộc khu được trả về Tỉnh. Trường thanh, thiếu niên dân tộc Tỉnh chuyển từ Điện Biên sang, trường thiếu niên dân tộc huyện Tuần giáo chuyển vào. Năm trường sáp nhập lại thành trường Phổ thông vùng cao Tỉnh. Do tình hình biên giới có vấn đề nên các trường tập trung đều chuyển hết về Tuần Giáo. Trường Phổ thông vùng cao được chuyển về xã Quài Cang thuộc huyện Tuần Giáo (cũ) trên đường đi vào bản Phủ. Từ đường quốc lộ 6 đi qua trường bồi dưỡng giáo viên là đến địa phận của trường. Phía sườn đồi bên trái là dãy nhà toóc xi lợp gianh - đây là nơi ở của học sinh có đầy đủ giường, chiếu, chăn màn. Dưới chân đồi là các lớp học có bàn gỗ, bảng đen rồi đến nhà tập thể giáo viên. Bên phải đường là nhà các gia đình cán bộ, giáo viên và Ban giám hiệu. Tiếp theo là sân bóng nhỏ đủ để các trò đá bóng mỗi buổi chiều và tập trung chào cờ mỗi sáng thứ hai. Vào sâu bên trong là nhà bếp, nhà ăn; hai bên khe núi là nhà các cán bộ phục vụ; trong cùng là nhà bác Phổ bên mó nước nhỏ phục vụ sinh hoạt cho cả trường.
Trường phổ thông vùng cao lúc đó do thầy Mùa Chống Da làm hiệu trưởng; thầy Đào Tiến Minh, thầy Phạm Văn Thấn làm hiệu phó với 300 học sinh từ lớp 1 đến lớp 10. Các em nhỏ mới đến nhớ nhà, nhớ bố mẹ khóc thút thít, nhiều đêm các cô giáo phải lên ngủ cùng. Mỗi buổi chiều tan học, cô Đỗ Thị Đào, cô Nguyễn Thị Tỉnh, cô Nguyễn Quý Lạc, thầy Tân lại đưa các trò ra suối cách 1 km tắm giặt. Khó khăn là vậy nhưng những hoạt động của trường rất nề nếp. Sáng sớm khi nghe tiếng trống cả trường xuống sân tập thể dục dưới sự hướng dẫn của thầy Hán dạy thể dục. Ấn tượng nhất là giờ chào cờ mỗi sáng thứ hai hàng tuần. Dưới sự chỉ đạo của thầy Phạm Văn Thấn, em Xùng A Xà tập hợp học sinh toàn trường cách cột cờ 50m đi đều bước đến cột cờ. Đồng thời, một em học sinh kéo dần lá cờ đỏ sao vàng lên cột. Khi đoàn người còn cách cột cờ 10 m thì lá cờ cũng kéo lên đến đỉnh và quốc ca vang lên xua tan cảnh tĩnh mịch của buổi sáng ở bản Kạn. Buổi sáng lên lớp, buổi chiều các em tự học có sự hướng dẫn của các thầy, cô; tối lại cùng nhau tập văn nghệ., các đạo cụ đều do thầy trò tự tạo ra. Em Páo Mỷ hát quan họ không có nón quai thao phải mượn một cái mẹt của bác Xá làm nón thế mà vẫn hát rất mượt mà đằm thắm. Khổ nhất vẫn là thiếu nước, mó nước gần nhà bác Phổ chỉ đủ dùng làm nước ăn và đánh răng, rửa mặt. Trước tình hình đó, khi thầy Lỳ Khai Phà lên làm hiệu trưởng thay thầy Mùa Chống Da nghỉ hưu đã suy nghĩ làm thế nào để có nước sinh hoạt cho thầy trò. Thật vui khi thầy Hán dạy thể dục và anh Bản cán bộ của trường trong lúc đi săn đã phát hiện ra một mó nước cách trường khoảng 1,5 km mà trước đây người Trung Quốc sang làm đường đã sử dụng. Ban giám hiệu cử tôi cùng các thầy lên khảo sát thấy một nguồn nước từ khe núi đùn lên chảy ra thành một con suối nhỏ; về báo cáo Ban giám hiệu và nhờ thầy Nguyễn Đức Dục dạy địa lý dem dụng cụ lên đo đạc bình độ giữa mó nước và nhà trường xem nước có thể về được không. Sau nhiều lần kết hợp với thầy dạy vật lý tính toán, cuối cùng thầy khẳng định nước về được. Ban giám hiệu làm tờ trình lên Ty giáo dục. Các thầy Ty giáo dục xuống kiểm tra thấy có thể thực hiện được. Rất nhanh chóng, Ty giáo dục cấp cho nhà trường số ống kẽm và các dụng cụ lắp đặt kèm theo đủ để lắp đặt đường ống dẫn nước từ mó về và dẫn đi các bể.
Đến phần việc của nhà trường theo khảo sát của chúng tôi, cần vét đất, đá, đắp thành một con đập nhỏ để giữ nước đưa về trường. Hôm ấy sau khi đã thống nhất trong Ban giám hiệu và chuẩn bị dụng cụ chu đáo, đúng sáng 3/2/1980 toàn trường tập trung. Thầy Phà phát động công trình lao động chào mừng ngày thành lập Đảng bằng việc lên rừng đắp đập để đưa nước về trường. Dưới sự chỉ đạo của thầy Phạm Văn Thấn, toàn trường hưởng ứng với khí thế thật sôi nổi. Thầy Thấn trao cho tôi một lá cờ Đảng và lệnh cho tôi dẫn đoàn quân đi .Thầy hô tất cả tiến theo lá cờ đỏ, áo đỏ (còn rét nên tôi mặc áo bông đỏ) quyết tâm tìm và dẫn nước về trường. Cả trường vượt suối tiến vào khe núi. Dưới sự hướng dẫn của thầy Hán, anh Bản, thầy Dục, các bộ phận được phân công, lớp vét đất lên, lớp khuân đá về, lớp dùng cây đóng cọc xuống chắn đất đắp đập, không khí sôi động cả một khu rừng. Trời về trưa, các cô chú phục vụ đem bánh mỳ lên cả thầy trò cùng ăn vui vẻ. Sau khi nghỉ ngơi cả trường tiếp tục làm đến chiều. Con đập đã hoàn thành chắc chắn ngăn đủ nước để đưa về trường.
Đến khi lắp đường ống thật vất vả đi từ khe xuống, vượt đồi, rồi vượt suối, qua các thửa ruộng của dân mà trước đó Ban giám hiệu đã phải sang bản để vận động dân bản ủng hộ trường: khi làm ruộng không động đến đường ống, các cháu đi chăn trâu không để trâu làm hỏng đường ống…Với những dụng cụ thô sơ, các thầy giáo và cán bộ của trường đã nối được đường ống dẫn nước từ mó nước về đến trường. Đồng thời thuê thợ xây 3 bể chứa nước ở 3 khu tập thể giáo viên, trong nhà bếp và khu học sinh. Sau thời gian thi công, khi mọi công đoạn đã hoàn thành chỉ còn lên nguồn lắp ống nước vào bể. Hôm ấy, cả thầy và trò tập trung tại các bể nước chờ đợi. Còn một số thầy lên nguồn lắp ống vào bể. Thời gian chờ đợi thật hồi hộp, không biết với sự chênh lệch độ cao như vậy nước có về được không.. Chờ một tiếng rồi hai tiếng. Bỗng cả trường vỡ òa khi dòng nước đầu tiên chảy về bể, cả thầy và trò reo hò mừng rỡ. Thế là từ đó các cô không phải dẫn các trò ra suối mà chỉ hướng dẫn các trò dùng nước ở bể để vệ sinh cá nhân. Các trò nhỏ lớn dần. Nhà trường không tuyển cấp 1 nữa chỉ tuyển từ cấp 2. Có nước cuộc sống càng ổn định hơn. Nhưng thiên tai lại ập đến. Một cơn lốc tràn qua giữa đêm, cả trường náo loạn các trò lớn bình tĩnh đến thông báo cho các thầy cô, các trò nhỏ sợ hãi túm lại với nhau. Thầy Phà hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo đến ngay kiểm tra các lớp thấy có 2 nhà học sinh bị đổ, mấy nhà tốc mái. Các cô, thầy chủ nhiệm ổn định học sinh lớp mình, may không có em nào bị thương nhưng không thấy em Đặng Văn Bình con chị Mùa Thị Dí đâu. Cả trường bủa đi tìm khắp nơi đến khi trời sáng; thầy trò mệt mỏi ngồi nghỉ thì từ trong ngôi nhà đổ em Bình bò ra ngơ ngác, mọi người ùa đến hỏi “Nhà đổ mày ở đâu để thầy Phà và chúng tao tìm cả đêm không thấy”. Sau khi tỉnh ngủ Bình mới thong thả nói “khi thấy nhà đổ sợ quá chui vào gầm giường rồi ngủ quên mất”. Thật hú vía cả trường không ai việc gì, mấy hôm sau dựng lại nhà, các trò lại ổn định học tập.
Thời ấy gian khổ là vậy nhưng các trò rất ngoan chịu khó học tập và rèn luyện. Nhiều em sau này trở thành cán bộ tỉnh như em Giàng Páo Mỷ - Nguyên Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu; em Mùa A Sơn - Nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy tỉnh Điện Biên; Giàng Thị Hoa - Nguyên Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Điện Biên; các ngành như Thào A Chía, Xùng A Xà; bạn Cao Sinh, Tẩn Mý Khé và nhiều học sinh khác đều là những cán bộ của các dân tộc trong Tỉnh.
Bây giờ trường được đổi tên thành trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Điện Biên có sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ, học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, trình độ học tập ngày càng nâng cao sánh với các trường phổ thông khác trong nước, nhiều em được thi học sinh giỏi toàn quốc đạt giải cao, hứa hẹn sẽ đào tạo một đội ngũ cán bộ dân tộc giỏi để xây dựng quê hương vùng Tây Bắc ngày càng giàu đẹp hơn./.
Điện Biên, ngày 19 tháng 5 năm 2026
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn